
Sau khi đem về phân tích ở phòng thí nghiệm của MIT, đội ngũ của Ainara có thể “du hành thời gian” về quá khứ để tìm hiểu chế độ dinh dưỡng mà tổ tiên của chúng ta đã ăn từ cách đây mấy chục nghìn năm. Với chuyên môn của mình – Ainana có bằng Tiến sĩ về Sự tiến hóa của loài người thông qua việc ăn tạp.

Cô “thấy” được rằng hệ vi sinh trong đường ruột của những người cổ đại đó tốt hơn chúng ta hiện nay tới 30%, đồng nghĩa với việc nội tạng của họ cũng sạch hơn, khỏe mạnh hơn chúng ta. Điều này cũng giải thích vì sao cơ thể chúng ta phải tiến hóa để phù hợp với thức ăn đưa vào cơ thể.

Tiêu tiểu được xem là việc nhạy cảm vì liên quan tới vệ sinh cá nhân, tuy nhiên hiện nay các nhà khoa học đang dành rất nhiều sự quan tâm nghiên cứu cho lĩnh vực này. Mỗi cục phân có thể được sử dụng như một lăng kính để các nhà khoa học nhìn thấu được sự phát triển của xã hội, thông qua chế độ dinh dưỡng và các hợp chất có trong chất bài tiết.London là một trong những thành phố có hệ thống xử lý nước thải lớn nhất, phức tạp nhất và hiện đại nhất thế giới. Latif Nasser đưa chúng ta đến thăm trạm bơm Abbey Mills Sewage nằm ở trung tâm thành phố này, có nhiệm vụ điều tiết nguồn nước thải qua các nhà máy xử lý trước khi đổ ra sông Thames. Đây là đầu mối quản lý hàng ngàn km ống cống nằm dưới lòng đất của London.

Người quản lý trạm Abbey Mills Sewage, kỹ sư Gerry Sullivan kể lại rằng: Trạm bơm này được xây dựng vào giữa thế kỉ 19, sau cột mốc mà người dân London gọi là Năm Đại Thối 1858 (year of the Great Stink). Trước năm 1858, nước thải từ cống sẽ chảy trực tiếp ra sông Thames mà không qua xử lý. Dẫn theo việc phẩy khuẩn (các loại vi khuẩn có hình dấu phẩy – vibrio) được thải ra sông, gây bùng phát bệnh dịch tả, giết chết hơn 10.000 người/năm.

Đến năm 1858, mùi nước thải đã trở thành vấn nạn của London thời đó, khiến cho Quốc hội phải đặt hàng các kỹ sư xây dựng 1 hệ thống xử lý nước thải trước khi xả ra sông Thames, kết quả là nhà máy Abbey Mills Sewage ra đời để xử lý phân, nước tiểu, nước thải của toàn thành phố. Nhà máy này được ví dụ ruột già của thành phố London.
Tiếp theo đó, Latif theo chân Leon Berron đi đến một địa điểm gần chân cầu Tower Bridge để lấy mẫu nước sông cho việc nghiên cứu, công tác này được ví von là “kiểm tra ma túy cho cả thành phố theo thời gian thực”. Thậm chí không cần phải lấy mẫu nước, họ vẫn dễ dàng bắt gặp những bị nilon nhỏ chứa ma túy trôi lơ lững trên mặt sông.

Khi đưa mẫu nước về phòng thí nghiệm, các nhà khoa học có thể phân tích để tìm thấy hơn 200 tạp chất có thể tồn tại trong nước sông, bao gồm ma túy, thuốc giảm đau, thuốc an thần, kháng sinh, thuốc chống trầm cảm vv và vv…
Tức là, thông qua việc phân tích nước sông Thames được thải ra từ các nhà máy xử lý nước thải vốn chưa được xử lý hết hoặc bị rò rỉ, các nhà khoa học có thể biết được xu hướng sử dụng thuốc của cư dân thành phố theo từng ngày và từng thời điểm trong tuần. Ví dụ, dư lượng ma túy đá được tìm thấy trong nước vào tất cả các ngày trong tuần, nhưng tăng vọt đột biến vào thứ Bảy, nghĩa là cư dân London có xu hướng phê pha nhiều hơn vào ngày cuối tuần vì CN được nghỉ.

Trong khi đó, cocaine thì có mức sử dụng đều hơn, hầu như ngang nhau từ t2-t6 và tăng nhẹ vào t7, chứ không tăng đột biến ngày cuối tuần như ma túy đá. Tức là ngày nào cũng có người xài cocaine.
Chưa hết, các nhà khoa học còn theo dõi dư lượng thuốc chống trầm cảm có trong nước thải để xem liệu rằng sự kiện Brexit có tác động tới cư dân London hay không. 1 viên thuốc giảm đau, 1 viên thuốc chống trầm cảm thì không sao, nhưng khi hàng ngàn, hàng vạn cư dân đều sử dụng thuốc và chúng được thải qua chất bài tiết rồi đi thẳng ra môi trường thì tác động tới thiên nhiên sẽ không hề nhỏ.
Những nơi có hệ thống xử lý nước thải như London mà còn rò rỉ nước thải thô chưa qua xử lý ra môi trường bên ngoài, thì ở những quốc gia xả thải trực tiếp ra kênh rạch, sông suối, rồi ra biển thì như thế nào? Để trả lời cho câu hỏi này, chúng ta tiếp tục theo chân Latif, chúng ta đến với Umea, Thụy Điển.

Lần này chúng ta sẽ gặp gỡ 2 chuyên gia về môi sinh thuộc trường ĐH Nông nghiệp Thụy Điển, là Gustav Hellstrom và Tomas Brodin. Họ đang nghiên cứu về tác động của ma túy, thuốc chống trầm cảm, thuốc giảm đau và kháng sinh do con người thải ra ảnh hưởng tới các loài cá như thế nào.
Bản năng sinh tồn tạo cho các sinh vật cảm giác sợ hãi khi gặp nguy hiểm hoặc kẻ săn mồi thiên địch. Bằng thực nghiệm, khi pha vào nước sông một lượng dược chất Benzodiazepine có trong các loại thuốc an thần phổ biến như Valium, Xanax, bằng với hàm lượng được tìm thấy trong nước biển. Kết quả cho thấy loài cá được nuôi trong hồ có thuốc an thần sẽ mạo hiểm hơn, thay vì chọn sống ở nơi an toàn thì chúng liều lĩnh bơi tới các vùng nước xa và nguy hiểm hơn.

Liều lĩnh hơn dẫn tới việc chúng dễ bị ăn thịt hơn. Không chỉ vậy, benzodiazepine có trong nước còn làm cho chúng không còn bản năng tụ họp theo đàn như trước, tức là không còn bơi thành bầy để tránh kẻ săn mồi mà cấu trúc xã hội của chúng đã bị phá vỡ.
Mà đó chỉ là một loại thuốc an thần, còn có hàng tá dược chất trong hàng trăm loại thuốc khác mà con người sử dụng và thải ra môi trường tự nhiên. Điển hình là thuốc tránh thai sẽ ảnh hưởng tới ếch, ibuprofen có trong thuốc giảm đau gây ảnh hưởng lên các loài giáp xác, cocaine tác động lên lươn vv và vv…

Nói cách khác, mỗi cú giật nước xả bồn cầu của con người đều có liên quan trực tiếp tới đời sống tự nhiên, phân của con người có thể trở thành thức ăn cho các động vật nhỏ, rồi cá lớn ăn những con cá nhỏ rồi cứ theo vòng quay cá lớn ăn cá bé, toàn bộ các sinh vật trong đại dương đều có thể bị ảnh hưởng bởi chất bài tiết của con người.

Không chỉ giới hạn ở Trái đất, vào năm 1969 khi tàu Apollo đáp lên Mặt trăng, trước khi rời đi các phi hành gia cũng để lại rác ở đây, tức là ở đâu có dấu chân của con người thì tự nhiên cũng sẽ bị tác động dù ít hay nhiều. Bây giờ anh em đã hiểu vì sao chất thải của chúng ta có mối quan hệ trực tiếp tới đời sống tự nhiên ra sao rồi chứ?
Theo Connected: The Hidden Science of Everything












